Trang chủ » Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân

Cảm nhận về sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân

BÀI LÀM 1:

Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, ông là một cây bút đầy sức sáng tạo của nền văn học Việt Nam. Tô Hoài có vồn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng miền khác nhau, lối trần thuật hóm hỉnh, vốn từ vựng giàu có, sáng tạo, cách miêu tả đậm chất tạo hình, lay động lòng người. . “Vợ chồng A Phủ” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông. Truyện nói về cuộc sống tối tăm , khổ nhục và quá trình tự vùng lên đấu tranh kẻ thù, xây dựng lại cuộc đời của người dân miền núi cao Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn thực dân, chúa đất. Đặc biệt, Tô Hoài đã khắc họa thành công nhân vật Mỵ có sức ám ảnh đối với người đọc với sức sống tiềm tang trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.

Năm 1952, Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Chuyến đi thực tế này đã đem đến cho nhà văn cái nhìn sâu sắc và tình cảm thăm thiết với người và cảnh Tây Bắc. “Vợ chồng A Phủ” được in trong tập “Truyện Tây Bắc”

 

Tô Hoài đã dẫn dắt người đọc vào câu chuyện bằng một lời giới thiệu nhẹ nhàng nhưng đầy ý vị “Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lý Pá Tra thường thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Cách vào truyện gây ấn tượng bởi tác giả đã tạo ra sự đối nghịch giữa cô gái trẻ đẹp lẻ loi, âm thầm với cảnh đông đúc tấp nập của gia đình thống lí Pá Tra. Đây là thủ pháp tạo tình huống “có vấn đề” để lôi cuốn người đọc khám phá những bí ẩn của số phận nhân vật.

Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa, hồn nhiên yêu đời, là mơ ước của bao trai làng. Mị còn là một cô gái chăm chỉ, hiếu thảo và có lòng tự trọng. Cô đã xin bố cô cho cô “con nay đã lớn, đã biết cuốc nương làm ngô giả nợ cho bố, xin bố đừng gả con cho nhà giàu” . Mị xứng đáng được sống hạnh phúc nhưng Mị lại phải sống đọa đày trong khổ đau, tủi nhục. Ngày trước cha mẹ Mị phải vay tiền của nhà thống lí để làm đám cưới, cho tới khi Mị ra đời, mẹ Mị mất, Mị sắp đến tuổi lấy chồng, món nợ vẫn không trả được, dù mỗi năm gia đinhg Mị đã nộp một nương ngô cho thông lí. Thống lí đế nói với bố của Mị “cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao sẽ xóa hết nợ cho”. Rồi Mị bị A Sử con trai thống lí bắt có về làm vợ theo cướp dâu. Tô Hoài đã tố cáo chế độ cho vay nặng lãi, bóc lột người nhèo một cách dã man của bọn thống trị vùng Tây Bắc thời kì trước cách mạng tháng Tám.

Ngày mới về làm dâu, “có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc” vì Mị phải sống với kẻ mà cô không yêu . hơn nữa, bề ngoài Mị là con dâu thống lí nhưng thực chất cô là con nợ. Một con nợ thông thường dù khốn khổ vẫn hi vọng một ngày nào đó sẽ trả hết nợ, thoát khỏi thân phận con nợ. Không thể chịu đựng đưucọ sự áp chế cả thể xác lẫn tinh thần của cha con thống lí, Mị trốn về nhà gặp cha, cô tính ăn nắm lá ngón để tìm sự giải thoát. Nhưng trước những lời thống thiết của cha, Mị không muốn cha Mị buồn khổ hơn, cô nén nỗi đau riêng đành trở lại nhà thống lí.

Mị sống cam chịu, không phản kháng. Sau này, bố chết rồi “Mị không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa”. Tác giả cắt nghĩa “Ở lâu trong cáu khôt, Mị quen khổ rồi” để minh giải tình trạng nhân vật đày đọa đến mức tê liệt về tinh thần , buông xuôi, phó mặc cho hoàn cảnh. Mị sống thầm lặng, lặng lẽ “mị ngày càng không nói, lùi lũi như con rùa nuoi trong xó cửa”. Mị bị biến thành một thứ công cụ lao động là nỗi cực nhục mà Mị phải chấp nhận. Nhưng Mị còn phải chịu đựng nỗi đau về tinh thần triền miên. Nhà văn miêu tả căn buồng của Mị ở trong nhà thống lí như một nhà tù “ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng”. Mị bị đày ải bởi lao động khổ sai ở nhà thống lí nhưng đáng sợ hơn là sự đày đọa về tinh thần, Nó làm cho Mị sống mà như đã chết.

Với sự cảm thông trân trọng, Tô Hoài đã phát hiện sức sống mạnh liệt tiềm tang trong con người Mị dẫn cô tới hành động phản kháng táo bạo, quyết liệt. Nhà văn tạo những cảnh , nywungx tình huống hợp lí để vẻ đẹp tính cách nhân vật tỏa sáng.

Cảnh tết đến xuân sang với nhiều hình ảnh, màu sắc rực rỡ của những chiếc váy hoa “phơi trên mỏm đá xòa như con bướm sặc sỡ”, tiếng cười đùa vui vẻ của đám trẻ trước sân nhà, đặc biệ là tiếng sáo rủ bạn đi chơi đã tác động mạnh mẽ đến tâm hôn Mị. Mị nghe “tiếng sáo ngoài đầu núi” vọng lại tha thiết, bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thôi:

“Mày có con trau con gái rồi

Ta đi tìm người yêu”

Ngôn từ giản dị, mộc mạc của tiếng sáo hàm chứa lẽ sống tự do, phóng khoáng của con người. Tiếng sáp đánh thức đời sống ý thức, làm hồi sinh tâm hồn Mị, bừng lên sức sống tiềm ẩn trong Mị. “Ngày Tết, Mị cũng uống rượu..cứ uống ực từng bát. Rồi say..” ngồi “nhìn mọi người nhảy đồng , người hát nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước”. Cách uống rượu “ực từng bát” của Mị khiến ta nghĩ cô như đang uống đắng cay của phần đời đã qua và cô như đang uống cái khát khao của phần đười chưa tới. Rượu có thể làm cơ thể và đầu óc Mị say nhưng tâm hồn cô thì đã tỉnh lại sau bao tháng ngày câm nín bởi sự đày đọa khốn khổ. “Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”. Tiếng sáo nhắc Mị nhớ lại một thời tươi đẹp, một thời tự do. Có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Để rồi, sau bữa cơm Tết, mọi người đi chơi thì Mị lại “từ từ bước vào buồng”, “ngồi xuống giường, trông ta cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”. Bởi vì bị giam hãm lâu ngày, Mị đã thành thói quen. “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi”. Nhưng Mị thấy “phơi phới trở lại trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước” . Mị thấy mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi như bao người phụ nữ có chồng khác. Mị thấy mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi như bao người phụ nữ có chồng khác. Mị ý thức được tình cảm của mình. Ý nghĩ về cái chết là sự phản kháng hoàn cảnh. Nó chứng tỏ Mị đã trở lại chính mình. “Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường” nghe càng da diết , thôi thúc Mị bước tới hành động “xắn một miếng mở bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Khi tiếng sáo “rập rờn” trong đầu, Mị quyết định đi chơi, Mị sửa soạn đi chơi, Mị “quấn lain tóc” “với tay lấy cái váy hoa”, “rút thêm cái áo”. Hành động của Mị là hành động của một người tự do, theo tiếng gọi của lòng mình. Giữa lúc khao khát tự do trong Mị đang sống dậy thì Mị bị A Sử trói đứng vào cột “không cúi không nghiêng đầu được nữa”. Lúc đó, Mị vẫn là người nửa tỉnh nửa mơ, hồn Mị vẫn lâng lâng theo tiếng sáo, những kí ức tươi đẹp thời thanh xuân khiến Mị “như không biết mình đang bị trói”. Khi Mị vùng bước đi, sợi dây trói nhắc Mị nhớ tới thân phận trong hiện tại. Mị thổn thức nghĩ “Mình không bằng con ngựa” , vì con ngựa còn được đứng gãi chân, nhai cỏ. Thực tại nghiệt ngã lại bóp chết khát vọng trong Mị. Cả đêm bị trói đứng như thế. Nín khóc Mị lại bồi hồi, có lúc lại nồng nàn thiết tha nhớ…

 

Sức sống mãnh liệt tiềm tang trong con người Mị không gì vùi dập được. Ngòi bút của tác giả lánh sâu vào những bí mật của đời sống nội tâm, phát hiện nét đẹp và nét riêng của tính cách nhân vật ngay cả lúc nhân vật đau khổ nhất. Tô Hoài đã cảm thông cho số phận của những con người phải sống trong sự đày đọa của áp bức thông trị. Nhà văn đã lên án và tố cáo sâu sắc một xã hội tàn bạo, xấu xa, nghiệt ngã như vậy. Qua đó, Tô Hoài còn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn , khát vọng sống mãnh liệt của nhân vật Mị.

BÀI LÀM 2:

Truyện “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc trong tập truyện “Tây Bắc” của Tô Hoài, viết về miền núi, được Hội Văn nghệ Việt Nam Trao giải nhất năm 1954-1995, đã thể hiện cái nhìn chân thực về miền núi. Miền núi trước đây được thể hiện trong văn học là những “cảnh rừng xanh núi đỏ” đầy bí ẩn với những “ngọn núi mù mù lam tím”, “oai linh và mầu nhiệm”. Còn con ngừoi thì lạc hậu và cam chịu sự đè nén của thực dân phong kiến. Nhưng qua “Vợ chồng A Phủ” lại là một bức tranh hùng vĩ – thơ mộng với những còn người không chịu lặng lẽ cúi đầu. Ở họ, có một vẻ đẹp tâm hồn thuần phác tự nhiên và đặc biệt là sức sống tiềm tàng. Nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ là tiêu biểu cho sức sống tiềm tàng ấy ở người phục nữ miền núi.

Nói đến sức sống tiềm tàng là nói đến khả năng sống dạt dào ẩn náu từ cái phía sâu thẳm ở mỗi con người. Nó giống như những hạt mầm bị vùi lấp sau băng giá, khi có dịp mới bật nẩy thành cây đời xanh tươi. Đây không chỉ đơn thuần là sức sống dẻo dai âm ỉ mà còn là năng lực thích ứng với mọi hoàn cảnh, để vượt lên mọi trở lực mà tồn tại. Sức sống tiềm tàng như vậy còn bao hàm cả thái độ và phẩm chất tốt đẹp.

Từ quan niệm ấy mà nhìn nhận thì sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị không chỉ thể hiện ở đêm tình mùa xuân và đêm cởi trói cho A Phủ mà còn là cả một quá trình dồn nén, chất chứa từ những buổi đầu làm dâu gạt nợ.

 

Mị là cô gái xinh đẹp, tài hoa, chỉ cần đặt chiếc lá lên môi là thổi thành bài tình ca còn hay hơn thổi sáo. Cái tiếng sáo tâm hồn ấy đã làm thổn thức bao tâm hồn khác. Nhiều chàng trai mê mẩn đuổi theo Mị hết đêm này sang đêm khác. Giữa lúc đang tràn đầy hy vọng, Mị hồi hộp bước ra theo tiếng gọi của hạnh phúc, thì có ngờ đâu lại rơi vào vực thẳm khổ đau. Mị đã bị nhét áo vào miệng, bắt về làm dâu gạt nợ nhà Thống Lý, không lễ nghĩa, không tình cảm. Tuyệt vọng, đến hàng mấy tháng trời, đêm nào Mị cũng khóc. Ban ngày nước mắt đắng cay tủi cực lẫn vào với công việc. Đêm đến nỗi khổ đau mới theo nước mắt trào lên mặt gối, để cho cả cuộc đời gối đầu lên nước măt. Một con người có sức sống đâu chịu khép mình sống trong tủi cực như vậy. Phải tìm cách vùng thoát khỏi cảnh nô lệ này. Nhưng muốn thoát khỏi sự bủa vây của cường quyền và thần quyền trong lúc này, không còn cách nào khác là mượn sức mạnh của nắm lá ngón. Bề ngoài tưởng như chán đời, nhưng xét cho cùng đây là hành động phản kháng quyết liệt của con người tha thiết yêu đời. Yêu lấy đời mình là quyết không thể để chìm trong ô nhục mà phải tự vớt lấy đời mình và hướng về phía ánh sáng. Không dám đối mặt với cái chết của đời mình thì cũng có nghĩa là chưa biết sống vậy. Hành động giải thoát của Mị chính là biểu hiện của sức sống tiềm tàng đã trỗi dậy.

Nhưng trước thái độ của người bố: “Mày chết rồi thì lấy ai làm nương ngô trả nợ cho người ta, tao thì ốm quá rồi. Không được, con ơi !”, Mị chỉ bưng mặt khóc. Giữa một bên là tiếng gọi của tình thương, một bên là tiếng gọi của cuộc sống trong sạch thanh cao, lúc này Mị phải chọn lấy một. Nếu tiếp tục giải thoát với nắm lá ngón thì có nghĩa là kẻ ích kỷ, Mị chỉ còn biết sống cho mình, ai khổ mặc ai. Còn nếu vất nắm lá ngón đi thì coi như đời Mị đã hết, Mị không sống để cho mình mà sống cho tháng ngày còn lại của người bố đỡ khổ hơn. Lần này Mị quay trở về nhà Thống Lý là hoàn toàn tự nguyện với ý thức trách nhiệm của người làm con. Vì tình thương mà Mị sẵn sàng đương đầu với mọi trở lực và chấp nhận cảnh sống tồi tệ, chỉ mấy phút trước đấy Mị đã tìm cách thoát ra. Người có sức sống mãnh liệt, đâu chỉ là người biết chết mà còn là người biết sống cả những lúc đời tưởng như không sống được. Thử thách con người nhiều khi không chỉ bằng cái chết mà còn là cả cuộc sống nữa. Đây là lúc đời đen tối nhất mà Mị vẫn có cách sống thì đó là sức sống tiềm tàng của Mị lại trỗi dậy.

Từ đây Mị bước vào một quãng đời âm thầm, chịu đựng, nhẫn nục, những không phải là không có thái độ phản ứng. Mị đã chống lại hoàn cảnh bằng thái độ sống thản nhiên lặng lẽ với tâm hồn khép đóng. Ngày ngày mặt cúi xuống như bị kéo lại bởi sức nặng của nỗi buồn. Như một cái bóng vật vờ tàn lụi, Mị chỉ nhớ đi nhớ lại những công việc không khác một cái máy: tết xong thì lên núi hái thuốc phiện giữa năm thì giặt đay se đay, đến mùa thì lên nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi hay lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một cuộn đay trong tay để tước sợi. Mị cứ như con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa. Ngay đến cả việc thay đổi cuộc đời, Mị cũng không nghĩ đến nữa. Đã là thân con trâu con ngựa, dù có đổi cái tàu ngựa này sang cái tàu ngựa khác thì vẫn chỉ là con ngựa. Mị lại còn khổ hơn cả con trâu con ngựa nữa. Con ngựa còn có lúc đứng gãi chân, con trâu còn có lúc đứng nhai cỏ, chứ Mị thì không lúc nào được nghỉ ngơi. Nhưng đừng tưởng là tâm hồn ấy đã chết. Sau cái bề ngoài tàn lạnh ấy là một hòn than đang âm ỉ, chỉ cần một ngọn gió đời, nó sẽ bùng lên thành ngọn lửa nồng. Mặt khác, cuộc sống bên ngoài cũng không để yên cho Mị. Nó luôn luôn lên tiếng vẫy gọi. Có khi là tiếng gọi thầm lặng cất lên từ những vạt cỏ tranh vàng ửng, khi gió mùa đông bắc thổi về báo hiệu màu Xuân sắp đến trên miền núi. Hoặc từ những cánh váy Mèo sặc sỡ như cánh bướm vắt trên tảng đá báo hiệu cho những đêm tình mùa xuân, đã làm cho lòng Mị xốn xang. Nghe tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết đâu đây Mị thấy lòng bổi hổi bồi hồi. Tiếng sáo ấy đã đưa Mị trở về với mùa xuân tuổi trẻ hạnh phúc. Mị nhớ lại, những ngày xưa, tết đến, Mị cũng uống rượu đi chơi và thổi sáo gọi bạn tình… Đến đây trong lòng Mị như có gì thôi thúc. Mị lén vào trong nhà lấy hũ rượu, “uống ực từng bát” như uống vào lòng cái men say muôn đời khao khát, để cho lòng cũng hóa men say, cũng thành lửa cháy: Mị lấy khăn áo ra đi theo tiếng gọi mùa Xuân hạnh phúc thì cũng là lúc A Sử về. Hắn đã trói chặt Mị vào cột. Nhưng hắn làm sao có thể trói buộc được tâm hồn Mị. Tâm hồn Mị cứ đuổi theo cái tiếng sáo gọi bạn tình lơ lửng ngoài kia.

“Anh ném quả pao em không bắt

Em không yêu quả bao rơi rồi”

Một lần nữa, sức sống tiềm tàng trong lòng Mị lại trỗi dậy. Sau lần bị quấn chặt vào cột ấy, cảm giác của Mị như đã bị chai sạn. Chẳng thế mà, đêm nào Mị cũng dậy thổi lửa, thấy A Phủ bị trói đứng ở cột Mị không chút động lòng. Mỗi khi ngọn lửa bếp bùng lên, Mị lé mắt nhìn sang, thấy mắt A Phủ vẫn mở trừng trừng. Mị nghĩ: nếu A Phủ có là cái xác chết đứng đấy thì cũng thế thôi, Mị vẫn dậy thổi lửa. Đêm trên miền núi dài và buồn, Mị chỉ còn biết ở với ngọn lửa. Nhưng rồi có một đêm, khi ngọn lửa vừa bùng lên, Mị nhìn sang, thấy mắt A Phủ cũng vừa mở, những giọt nước mắt đã chảy xuống hõm má đen xám lại. Những giọt nước mắt đắng cay tủi nhục, uất ức mọi khi được nuốt vào bên trong hôm nay chắc đã tràn đầy nên trào ra bên ngoài thành tín hiệu kêu cứu. Những giọt nước mắt ấy như đã rơi vào viết thương lòng của Mị, cái viết thương đã thành sẹo rồi, hôm nay lại lở lói để cho Mị đau lại nỗi đau của mình ngày xưa. Ngày xưa, Mị cũng bị trói đứng như vậy, nước mắt rơi xuống cổ, xuống miệng mặn chát không làm sao lau đi được. Từ chỗ đau lại nỗi đau của mình đến chỗ đau nỗi đau của người. Mị mơ hồ cảm thấy bất bình: ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi, chỉ còn đợi ngày chết rũ xương ở đây thôi. Còn người kia việc gì mà phải chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết.

Nhưng Mị vẫn chưa đủ sức mạnh để cởi trói cho A Phủ. Phải chờ đến khi Mị tưởng tượng ra cái cảnh A Phủ trốn được, Thống lý Pá Tra đổ tội cho Mị và bắt Mị trói thay vào cái cột ấy cho đến chết. Nghĩ đến đây sao Mị không thấy sợ? Giữa sự sống và cái chết, Mị chỉ còn một cách là giải thoát cho A Phủ. Giải thoát cho A Phủ, cũng là tự giải thoát cho mình khỏi sợi dây oan nghiệt của chế độ phong kêín tàn bạo. Một lần nữa, sức sống tiềm tàng trong lòng Mị lại trỗi dậy thành sức mạnh cởi trói.

Nhờ có sức sống tiềm tàng mà Mị đã mở đời mình từ một trang đen tối sang những trang rực rỡ ánh sáng của cuộc đấu tranh cách mạng.

BÀI LÀM 3:

Tác phẩm Vợ chồng A Phủ được nhà văn Tô Hoài viết vào những năm 1952, 1953, sau chuyến đi thực tế bộ đội và nhân dân vào chiến dịch Tây Bắc. Đây là tác phẩm được nhà văn xây dựng bằng những chuyện mắt thấy tai nghe, chan chứa tình cảm sâu nặng của tác giả đối với đồng bào miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của các thế lực thực dân, phong kiến. Vợ chồng A Phủ còn là bài ca về sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người miền núi trên con đường đấu tranh giải phóng cho bản thân và quê hương.

 

Tiêu biểu cho những con người, những số phận ấy chính là Mị, một phụ nữ đã chịu muôn vàn đắng cay, tủi cực. Song, cũng chính người phụ nữ ấy luôn tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt để khi bị chà đạp đến tận cùng đã trỗi dậy mạnh mẽ.

Trước khi về làm dâu

Mị xuất hiện ngay từ những dòng đầu của tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Đó là hình ảnh một cô con gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa ở nhà thống lí Pá Tra. Nhưng thực ra, đây là một cô Mị khác, còn cô Mị ngày xưa dường như đã chết rồi.

Ngày xưa, lúc còn ở nhà với cha, Mị là cô gái trẻ, dẹp, yêu đời, có tài thổi sáo hay, có bao nhiêu trai làng mê. Nhà Mị cũng như những nhà có con gái khác, mỗi năm đến Tết, bố mẹ không thể ngủ dược vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến đứng thổi sáo chung quanh vách. Mị được yêu và cũng đáng yêu.

Vả lại, cô còn là người có ý thức về sự tự do của mình. Nhà Mị vốn rất nghèo, bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới, phải đi vay nhà thống lí… Mỗi năm nộp cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Mẹ Mị chết cũng chưa trả hết nợ. Nhưng khi thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị cho cô về làm dâu để gạt nợ thì Mị đã xin: Con nay đã biết cầm cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu.

Khi mới về làm dâu

'Tuổi thanh xuân của Mị bị cắt ngang bởi cái án nợ đời cha mẹ để lại. Mị bị bắt cóc về làm dâu nhà thống lí Pá Tra để trừ nợ. Khi mới làm dâu có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Không những thế, cô còn trốn về nhà, hai con mắt đỏ hoe. Trông thấy bố, Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở. Mị còn tìm hái lá ngón trong rừng, định tự tử.

Khóc và đòi tự tử là những hành động phản kháng bế tắc, tiêu cực nhưng nó chứng tỏ trong người con gái yếu ớt này tiềm tàng một sức sống. Cô thà chết như một con người, chứ không chịu chấp nhận tình trạng đày đọa của kiếp nô lệ.

Sau một thời gian làm dâu

Nhưng Mị không thể chết như lời của cha cô: Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Thương cha, Mị đành ném nắm lá ngón xuống đất như ném đi khát vọng tự do của đời mình.

Từ đó người ta bắt gặp chân dung một cô Mị khác:

+ Mấy năm sau, cha cô chết, nhưng cô cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Dùng từ an phận đối với Mị dường như chưa đúng. Mị đã tê liệt sức phản kháng.

+ Chấp nhận kiếp sống trâu ngựa ấy, nhưng Mị buồn, lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rười. Thậm chí, mỗi ngày Mị càng không nói, không nghĩ ngợi gì nữa, bởi lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, và dù lúc đi hái củi, lúc giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngồ, lúc nào cũng gài một bó day trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế… Mị trở thành con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa.

Mị trở thành con người vô thức trước thời gian, về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm, cô không nhớ. Mị mất cảm giác cả về không gian. Thời gian và không gian chẳng có ý nghĩa gì, bởi đời của Mị như chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay ở cái buồng kín mít của cô, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Đôi lúc Mị đã nghĩ, cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy trông ra đến bao giờ chết thì thôi. Cái ô vuông ấy là một ngục thất giam hãm tinh thần của Mị. Mà Mị muôn chết cũng không đuợc, vì đời cô chỉ biết đi theo đuôi ngựa của chồng, ngay cả thân của Mị cũng không bằng con ngựa.

=> Vậy là sự dày đọa về thể xác và tinh thần đã bóp nghẹt sức sống trong cô Mị trẻ đẹp ngày nào. Trong con mắt của cha con nhà thống lí Pá Tra, những người như Mị đâu còn là con người.

Cuộc trỗi dậy đầu tiên (Đêm mùa xuân)

Tuy nhiên, sức sống trong Mị chưa hoàn toàn lụi tắt. Mỗi khi bước vào buồng, Mị lại ngồi xuống giường trông ra cửa sổ. Chi tiết ấy cho thấy Mị luôn hướng vọng ra bên ngoài, có những khát khao mong manh mơ hồ. Sức sống trong Mị sẽ trỗi dậy khi có tác động.

Mùa xuân năm ấy ở Hồng Ngài đẹp và gợi cảm biết bao: Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa.. Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng… Trong các làng Mèo, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ… Đám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi… Chính không gian rộn rã sắc màu cùng tiếng sáo tha thiết đã đánh thức cô Mị ngày xưa. Tiếng sáo như chạm vào nỗi nhớ. MỊ nghe tiếng sáo vọng lại tha thiết bổi hổi. Mị ngồi nhẩm lại bài hát người đang thổiằ..

Tất cả gợi cho Mị nhớ lại thời xa xưa. Ngày xưa, Tết Mị uống rượu. Bây giờ, Mị cũng uống rượu. Rồi Mị say. Khi say thì Mị lại sống về ngày trước. Ngày trước, Mị vui sướng biết bao. Tai Mị vẳng nghe tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Đấy là tiếng sáo của tình duyên, của tuổi thanh xuân càng đầy sức sống. Mị không còn là cô con dâu gạt nự nhà thống lí Pá Tra nữa. Mị đang uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Ra thế, Mị vẫn còn trẻ lắm. MỊ vẫn còn trẻ.

Nhưng thực ra, Mị vẫn đang ở nhà của thông lí Pá Tra. Mị vẫn đang sống kiếp đọa đầy với A Sử. Ước gì có nắm lá ngón ở trong tay, MỊ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Càng nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. ôi chao, tiếng sáo ấy, tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. MỊ đang muốn quên đi. Mị không muốn nhớ lại cái ngày trước mà không được. Tiếng sáo ấy lửng lơ; tiếng sáo ấy làm Mị thiết tha bồi hồi. Mị muốn đi chơi. Mị muốn thoát ra ngoài cái ô cửa mờ đục, trăng trắng này!

Mị thực hiện ý định giải thoát lần thứ nhất một cách lặng lẽ mà mãnh liệt: Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng… Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở trong vách… Mị rút thêm cái áo. Mị làm tất cả, thật bình thản và quyết liệt như ngày xưa, khi trong đầu MỊ dang rập rờn tiếng sáo.

Trông thấy Mị, A Sử lấy làm lạ. Nó chỉ biết rằng Mị muốn đi chơi. Thằng chồng ác hơn con hổ ấy không biết trước mặt mình đã là một cô Mị khác, cô Mị của ngày mà hắn đã từng lừa lọc để đánh cắp đem về. Hắn thẳng tay vùi dập tàn nhẫn sự trở về đó: A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói Mị đứng vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa..

Nhưng A Sử chỉ trói được thể xác Mị: Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi… Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cử động được. Khi ấy, Mị mới biết mình đang bị trói, đang ở trong căn nhà tù ngục này. Lòng Mị đau đớn,' thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.

Cuộc trỗi dậy lần thứ nhất của Mị không thành. Mị không thoát khỏi căn nhà ấy, dù chỉ một phút giây. Nhưng Mị đã không còn là con ngựa, con rùa lùi lũi trong xó cửa nữa. Mị đã sông lại những thời khắc của tuổi thanh xuân tươi trẻ và tự do. Vì thế, khi bị A Sử trói, lúc bàng hoàng tỉnh, Mị chợt nhớ đến câu chuyện một người vợ trong nhà thống lí Pá Tra bị trói đă chết không ai hay. Và, MỊ sợ quá. Mị còn muốn sông. MỊ còn ham sông.

Cuộc trỗi dậy ấy như một đợt sóng dâng lên rồi tan ra. Nó không mảy may thay đổi cuộc đời Mị. Nhưng từ đó, sóng ngầm vẫn không mất. Nó sẽ tuôn trào thành những đợt sóng mới, mãnh liệt hơn lúc nào hết!

Cuộc trỗi dậy thứ hai (Đêm cởi trói cho A Phủ và bỏ trốn)

Cuộc sống đọa đày trong nhà thống lí Pá Tra của Mị vẫn tiếp diễn, nếu không có chuyện A Phủ – người từng đánh lại A Sử, bị phạt vạ, phải đi ở cho nhà thống lí Pá Tra trừ nợ – làm mất một con bò bị trói, bị đánh, bị bỏ đói nhiều ngày, chỉ đợi cái chết.

Thực ra những đêm đầu Mị đã thấy A Phủ bị trói đứng nhưng cô vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. Tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện, kể cả lúc ra ngồi sưởi lửa, bị A Sử đánh ngã ngay xuống cửa bếp, hôm sau cô vẫn thản nhiên ra sưởi như đêm trước.

Nhưng dường như đó là cách Mị chống lại cuộc sống đọa đày ở đây. Còn trong lòng, không phải chuyện gì Mị cũng bình thản. MỊ rất sợ những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. Khi trong nhà đã ngủ yên, Mị tìm đến bếp lửa. Đốì với Mị, nếu không có bếp lửa ấy, cô sẽ chết héo. Và cũng chính nhờ ngọn lửa, Mị trông sang A Phủ và nhìn thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuông má đã xám đen lại. Dòng nước mắt ấy khiến MỊ chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải đứng chịu trói thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không thể lau đi được. Rồi MỊ phảng phất nghĩ gần nghĩ xa: Cơ chừng này thì chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở dây thôi… Người kia việc gì phải chết thế.

Mị xót xa cho A Phủ như xót xa cho chính bản thân mình. Mị thương A Phủ không đáng phải chết. Cô cũng sợ nếu mình cởi trói cho chàng trai ấy, bố con Pá Tra biết được sẽ trói thay Mị vào đấy và lại phải chết trên cái cọc ấy… Song có lẽ tình thương ở Mị đã lớn hơn cả sự chết. Cô cởi trói cho A Phủ và đứng lặng trong bóng tối. Song, chính ngay lúc ấy, trong lòng người đàn bà khốn khổ kia mọi chuyện xảy ra rất nhanh. Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng di. Vì ở đây thì chết mất.

=> Không thể nói đó là hành động hoàn toàn bản năng. Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy của ký ức, khát vọng sống tự do đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu. Mị giải thoát cho A Phủ và giải thoát cho cả bản thân mình. Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng khi người con gái yếu ớt dám chống lại cả cường quyền và thần quyền.

Vốn sống, sự hiểu biết tinh tế và đặc biệt tình yêu con người đã tạo cho ngòi bút của Tô Hoài rất vững vàng khi lí giải những đột biến của sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị. Qua đó, nhà văn đã đặt ra những vấn đề nhân sinh sâu sắc: chế độ phong kiến là chế độ trói buộc, giam hãm sức sống con người nhưng sức sống con người dù bị giẫm đạp, đè nén đến đâu c

Leave a Comment

Your email address will not be published.

Xem thêm
Scroll to Top