Trang chủ » Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-Lô-Khốp

Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-Lô-Khốp

BÀI LÀM 1

Nhà văn Sô lô Khốp (1905 – 1984), ông là một nhà văn Xô Viết lỗi lạc, vinh dự hơn khi ông được nhận giải thưởng Nô- Ben về văn học năm 1965. Đồng thời ông được liệt vào danh sách những nhà văn lớn. Tác phẩm của ông để lại gồm những tập truyện, tiểu thuyết lớn và tiêu biểu trong số đó có tác phẩm số phận con người. Qua tác phẩm ấy ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh. Từ khi ra đời có trên mặt báo Sự Thật cho đến nay tác phẩm vẫn còn nguyên những giá trị ý nghĩa của mình.

Nhân vật chính trong truyện chính là nhân vật Xô cô lốp. Anh là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh không còn gì cả, người thân, nhà cửa, bạn bè không còn ai hết. Đối với anh mà nói một lòng chiến đấu vì quê hương đất nước cũng chính là bảo vệ người thân của mình vậy mà giờ đây những người thân yêu của anh đều từ bỏ anh mà đi, bom đạn kia đã cướp họ khỏi anh.

Chính vì thế mà anh phải sống một cuộc sống đau khổ. Trong chiến đấu anh cũng phải chịu những bất hạnh đó là hai lần anh bị thương và tiếp tục bị đày đọa hai năm trong trại tập trung của phát xít Nhật. Vợ và hai người con gái của anh bị bom phát xít cướp đi tính mạng. Anh chỉ còn niềm hi vọng vào người con trai cả là A- na-tô-li thì anh ấy cũng bị chết trận năm 1945.

Như vậy có thể thấy số phận của anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những khổ cực về thể xác rồi mà đến khi chiến tranh kết thúc mọi nhà sống trong độc lập thì với anh lại là niềm đau khổ về tinh thần vì những người thân yêu của anh đều bị chiến tranh cướp đi mất rồi. Anh tuyệt vọng trước những đau khổ của cuộc đời. từ đó ta thấy được hậu quả của chiến tranh để lại thật sự rất đau lòng.

Sau chiến tranh anh không còn nhà cửa, không còn người thân cho nên anh phải ở nhờ một người đồng chí cũ. Anh phải tìm đến rượu để dịu bớt nỗi đau của mình. Tóm lại sau chiến tranh anh phải sống một cảnh sống cô đơn và bế tắc.

Và trong một lần tình cờ hay do duyên trời run rủi cho anh gặp bé Va ni a. Nhà văn miêu tả ngoại hình của chú bé bằng những lời văn chân thực nhất để từ đó thấy được hậu quả kinh khủng của chiến tranh để lại. Chú bé khoảng năm đến sáu tuổi. Chú hiện lên trong bô dạng quần áo rách bươm xơ mướp, mặt mũi thì bê bết lem luốc…duy nhất chỉ có cặp mắt là sáng ngời. Cậu bé ấy cũng có một hoàn cảnh vô cùng thương tâm. Cả cha và mẹ của cậu bé đều chết trong chiến tranh. Cùng có người thân bị mất nhưng ít ra Xô cô lốp còn có sức mà lao động còn cậu bé kia làm sao có thể lao động được. Cậu còn quá nhỏ. Cậu sống vạ vật, ai cho gì ăn đấy, bạ đâu ngủ đấy. Và duyên phận như cho họ gặp nhau để bù đắp cho nhau những tình thương mà mình đã mất đi. Xô cô lốp cảm thương tình cảnh của Va ni a cho nên anh quyết định nhận cậu làm con nuôi. Cả hai người chủ nhà của Xô cô lốp cũng đồng tình với hành động nhân ái ấy. Và anh như quên đi mọi đau khổ mà dành cho bé Va ni a những tình thương sự tận tình chu đáo. Anh mua quần áo cho cậu bé, một chiếc áo bành tô rất đẹp. Chính lòng nhân ái đã đem hai trái tim gần nhau sưởi ấm cho nhau.

Thế rồi anh cố gắng kiếm sống để nuôi bé Va ni a nhưng cuộc sống hay số phận anh khổ đau. Anh vượt lên những nỗi đau, xe anh quệt nhẹ người ta mà anh bi tước bằng lái, anh mất việc nên phải đi lang bạc kiếm sống. Đã thế thể chất sức khỏe của anh cũng giảm đi trông thấy. Anh đau đến khóc thế nhưng anh vẫn cố gắng không để cho bé Va ni a biết. Trước mặt cậu anh vẫn tỏ ra bình thường. Dường như nhà văn đang nhìn anh với một ánh mắt nhân đạo, anh đã không để cho bé Va ni a phải khóc, điều đó thể hiện một sự hi sinh của người cha.

Đến đoạn cuối tác phẩm thì nhà văn như thể hiện sự đồng cảm thương xót của mình với nhân vật. Tác giả không thể nào giấu được những cảm xúc của bản thân mình trước những tình cảnh cũng như tình cảm của hai cha con mà thốt lên: " Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…" Hai người côi cút đã tìm đến nhau chia sẻ cho nhau những niềm yêu thương trong cuộc sống. Đoạn văn thể hiện sự khâm phục những tính cách con người Nga kiên cường trước những khó khăn của cuộc sống. Trong hoàn cảnh đói nghèo đau khổ nhưng vẫn trao cho nhau những tình yêu thương nhân ái để chạm tay đến hạnh phúc.

Như vậy có thể nói qua đây ta thấy được số phận con người sau chiến tranh đau khổ như thế nào. Người lính đã trải qua những khó khăn trên chiến trường rồi tưởng rằng chiến tranh kết thúc sẽ được đoàn tụ thì người thân cũng bị chiến tranh cướp đi. Xô cô lốp cùng bé Va ni a chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Đồng thời qua tác phẩm này nhà văn kêu gọi mọi người nên có trách nhiệm với số phận của những con người như thế.

BÀI LÀM 2

Mi-khai-in Sô-lô-khốp (1905 – 1984), nhà văn Nga được Giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1965 và được coi là một trong số các nhà văn lớn nhất thế giới thế kỉ XX. Sức mạnh nghệ thuật của tác phẩm Sô-lô-khốp tập trung ở chỗ : ông đã trình bày những sự thật vĩ đại, hoành tráng mà cũng đầy khắc nghiệt và cay đắng của cuộc cách mạng vô sản, của cuộc chiến tranh giữ nước, của cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Xô viết. Chính sự thật đó đã chinh phục hàng triệu độc giả vì nó được viết ra với mục đích cao cả : "Nói với con người sự thật, đôi khi khắc nghiệt, nhưng bao giờ cũng dũng cảm củng cố trong lòng người niềm tin ở tương lai… Tôi mong muốn tác phẩm của mình giúp cho con người tốt hơn, tâm hồn trong sạch hơn, thức tính tình yêu đối với con người, khát vọng tích cực đấu tranh cho lí tưởng nhân đạo và tiến bộ của loài người" (Lời phát biểu trong lễ trao Giải Nô-ben, năm 1965). Truyện ngắn Số phận con người (1957) chứa dựng tầm khái quát sử thi với dung lượng hiện thực và tư tưởng sâu rộng, lớn lao, kết tinh những dồn nén, suy tư của nhà văn về chiến tranh, về số phận và sức mạnh tinh thần của con người, về tính cách Nga. Tác phẩm là câu chuyện về một con người bị số phận khắc nghiệt nhấn xuống chìm nghỉm đã kiên cường đứng vững bằng tình yêu thương và lòng dũng cảm, đã gieo vào lòng người đọc niềm tin, hi vọng vào con người, vào cuộc sống sau bao đau thương, mất mát trong chiến tranh. Với nghệ thuật kể chuyện giản dị, ngắn gọn mà chứa đựng một chiều sâu hiện thực và tâm lí nhân vật, truyện ngắn đã tác động mạnh mẽ, sâu xa, đầy cảm động tới trí tuệ và trái tim người đọc. Cuộc đời nhân vật An-đrây Xô-cô-lốp phản chiếu một trang sử hào hùng, bất khuất mà cũng thấm đẫm nước mắt của đất nước và con người Xô viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chống phát xít Đức. Số phận bình thường của anh không tách rời số phận lịch sử của đất nước và nhân dân với tất cả hào quang chiến thắng và gánh nặng của thương đau. Đoạn trích kể về đoạn đời sau chiến tranh của Xô-cô-lốp. Hoàn toàn trơ trọi trên cõi đời, tại một thành phố xa lạ, Xô-cô-lốp gặp bé Va-ni-a cũng lang thang, cô độc như chính mình. Tình thương trỗi dậy, Xô-cô-lốp nhận cậu bé làm con nuôi và dồn sức lo lắng trông nom em.
1. Những số phận bị chiến tranh vùi dập Số phận, là từ chỉ phần hoạ phúc, sướng khổ, thường là hoạ nhiều hơn phúc, dành riêng cho cuộc đời mỗi người ngoài ý muốn của họ. Chiến tranh đã tạo nên bao số phận bất hạnh, khổ đau. Chiến tranh nổ ra, Xô-cô-lốp từ biệt vợ con ra trận. Sau một năm chiến đấu và bị thương, anh bị bắt làm tù binh. Trải bao khổ cực trong tù, Xô-cô-lốp vẫn giữ vững khí phách anh hùng của người lính Xô viết. Gặp dịp may được lái xe cho bọn Đức, anh trốn thoát, về hậu phương, anh mới biết tin vợ và hai con đã chết vì bom từ hai năm trước. Con trai lớn của anh cũng là một chiến sĩ Hồng quân, nhưng đã hi sinh đúng ngày chiến thắng trên đất Đức. Chắc chắn số phận buồn đau không chi lựa chọn một mình Xô-cô-lốp mà còn vùi dập bao người. Chiến tranh đã tước đoạt tất cả những gì quý giá nhất của họ : quê hương, gia đình, tình thương yêu, niềm hi vọng. Hết chiến tranh, trước mặt họ là khoảng không trống rỗng, khủng khiếp : không nhà cửa, không vợ con, không niềm hi vọng. Từng bị hành hạ vô cùng dã man trong lao tù của phát xít Đức, Xô-cô-lốp vẫn kiên cường đứng vững. Nhưng giờ đây, chạm mặt với sự thật tàn nhẫn nhất : chôn trên đất người, đất Đức niềm vui sướng và hi vọng cuối cùng, tinh thần và thể chất dường như đổ sụp, anh trở nên như người mất hồn, trong anh như có cái gì vỡ tung ra. Dường như anh đã phải uống trọn nỗi đau cùng cực của kiếp người. Xô-cô-lốp không dám về thành phố quê hương, Vô-rô-nhe-giơ. Có lẽ nơi ấy giữ quá nhiều kỉ niệm êm đềm về gia đình, vợ con, mà bây giờ anh không dám đối mặt. Anh gần trở thành kẻ lang thang, ăn nhờ ở đậu, chìm vào rượu để trốn chạy quá khứ, tiêu sầu trong hiện tại. Nỗi buồn đau, mất mát in đậm trên gương mặt anh (cặp mắt nguội lạnh lúc nào cũng buồn thê thảm khiến người khác không dám nhìn thẳng vào), vò xé trái tim anh (trái tim tôi đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì đau khổ), tàn phá sức khoẻ anh (quả tim tôi đã rệu rã lắm rồi… có khi tự nhiên nó nhói lên, thắt lại, tôi chỉ sợ lúc nào đó đang ngủ mà tôi chết luôn…). Chiến tranh không chỉ nhấn chìm con người dày dạn, kiên cường như Xô-cô-lốp mà ngay cả bé Va-ni-a thơ ngây mới bốn, năm tuổi, cũng vì chiến tranh (bố chết ở mặt trận, mẹ chết bom) mà trơ trọi, đói khát, lang thang (ai cho gì ăn nấy, bạ đâu ngủ đấy, quần áo rách bươm như xơ mướp, bẩn như ma lem). Dù đang tuổi thơ dại nhưng chú bé cũng ý thức được nỗi bất hạnh của mình qua thái độ, đôi lúc lặng thinh, tư lự và những tiếng thở dài như khỉa vào tim Xô-cô-lốp. Chiến tranh đã qua đi nhưng số phận vẫn tàn nhẫn với Xô-cô-lốp. Tâm hồn anh vẫn luôn bị giày vò bởi những kí ức ngày hôm qua. Cứ tưởng những gì yêu quý nhất đã mãi mãi mất đi là nỗi khổ đau nhất, vậy mà kí ức về nó lại là những vết thương nhức nhối, không ngừng rỉ máu trong hiện tại. Xô-cô-lốp nhiều đêm không ngủ : hầu như đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy những người thân quá cố. Trong giấc chiêm bao của hiện tại, cũng như ngày xưa trong nhà tù phát xít, anh luôn mơ thấy mình trò chuyện với vợ con qua hàng rào dây thép gai. Cái hàng rào như ranh giới vĩnh viễn ngãn cách hai cõi đời tự do và tù đày, sống và chết, tồn tại và hư vô, mà trước đây cũng như bây giờ anh khống bao giờ vượt qua được. Và điều rất kì lạ này, chính Xô-cô-lôp cùng phải thú nhận là kì lạ : ban ngày bao giờ anh cũng trăn tĩnh được, không hở ra một tiếng thở dài, một lời than vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối ướt dẫm nước mắt. Ta bàng hoàng vì những lời thú nhận đau đớn, về những giọt nước mắt cứa con người từng trải và dày dặn như Xô-cô-lôp. Thời gian không thể chữa lành vết thương trong trái tim anh. Ban ngày, nhờ nghị lực và lòng dũng cảm, Xô-cô-lôp vẫn giữ được bình tĩnh. Còn những giọt nước mắt âm thầm, vô thức chảy trong đêm diễn tả nỗi dau lẩn sâu vào từng nếp gấp của trái tim anh, trái tim mang những buổn thương mà ý chí cũng không sao xoá mờ, không tài nào kiểm soát nổi. Có nghĩa là, quá khứ không hé mất đi mà trở thành nỗi dớn dau mãi mãi làm nhức nhối tâm hồn Xổ-cô-lốp. Đâu chỉ mình Xô-cô-lốp đã từng khắc khoải chờ mong ngày hội ngộ với gia đình. Va-ni-a bé bỏng cũng thổ lộ với bố Xô-cô-lốp : Con biết thế nào bố cũng tìm thấy con mà ! Thế nào cũng tim thấy mà ! Con chờ mãi mong được gặp bố ! Dù biết bố đã hi sinh ở mặt trận, nhưng Va-ni-a vẫn mãi mãi trông ngày gặp bố. Và đâu chỉ mình Xô-cô-lốp bị quá khứ ám ảnh, giày vò, kí ức thơ dại của Va-ni-a cũng đôi lúc trở về, thỉnh thoáng lại vụt sáng như quầng sáng mùa hạ, soi sáng tất cá trong chốc lát rồi vụt tát. Điều đó bộc lộ bằng những câu hỏi bất ngờ của Va-ni-a : Bố ơi, cái áo bành tô bằng da của bố đâu rồi ?… Thế tại sao bố lại tìm con lâu thế ?,… Điều đó khiến Xô-cô-lốp lo ngại, bới những kí ức ấy rất có thể sẽ lại là những vết thương, một ám ảnh buồn đau sống mãi trong tám hồn Va-ni-a nếu em nhớ lại sự thực và ý thức được chính xác thân phận mình. Những niềm đau kí ức như thế mãi mãi còn loé sáng, làm đau đớn đời sống tinh thần hiện tại. Những hi sinh, mất mát do chiến tranh đem tới rõ ràng không thể chỉ tính trên phương diện vật chất mà phải đo bằng những vết thương mãi nhức nhối trong tâm hồn những người đi qua chiến tranh, kể cả trẻ thơ ! Nỗi buồn đau buộc hai bố con Xô-cô-lốp cuốc bộ khắp nước Nga : Nổi đau buồn không cho tôi ở lâu mãi một chỗ được. Họ lại trở thành kẻ lang thang ngay trên chính quê hương mình ! Xô-cô-lốp vẫn hi vọng một lúc nào đó, lòng anh nguôi bớt nỗi buồn. Nhưng có lẽ điều ấy mãi mãi vẫn chỉ là hi vọng. Cỏ thể nói, đây là cái giá đăt nhất của chiến thắng : những đau khổ tột cùng do chiến tranh đem lại. Lên án chiến tranh, nhìn thẳng vào hi sinh, mất mát bên cạnh việc ngợi ca khí phách anh hùng của nhân dân xô viết là một cách nhìn mới về chiến tranh của Sô-lô-khôp. Đất nước Xô viết đã mất hai mươi triệu người trong cuộc chiến tranh này mà nỗi đau mênh mông ấy ở đây mới chỉ được tỏ bày qua hai số phận ! 2. Lòng nhân ái vượt lên số phận Trước nỗi đau số phận ấy, Xô-cô-lốp tìm đến lãng quên bằng rượu. Anh bắt đầu có thói quen vào quán làm một li rượu sau một ngày lao động cật lực : Phải nói rằng tôi đã quá say mê cái món nguy hại ấy. Lời tâm sự bộc lộ sự bế tắc và tuyệt vọng. Biết là nguy hại mà Xô-cô-lốp vẫn cứ lao vào. Dường như anh đã không thê tránh được lối mòn tự huỷ hoại được báo trước ấy. Nhưng khi gặp Va-ni-a, một số phận còn đáng thương hơn (bởi mới có bốn, năm tuổi mà em đã thành kẻ bơ vơ, trơ trọi bên lề cuộc đời) thì tình cảm và trách nhiệm của một người cha, tình thương mến trẻ thơ – một tình cảm bản năng của mọi tấm lòng trung hậu, đã thức dậy trong Xô-cô-lốp. Trái tim tưởng chừng hoàn toàn tan nát, chai sạn vì đau khổ của anh lại đập lại những nhịp đập xúc động, cảm thông, lại chứa chan tình thương yêu, niềm trắc ẩn. Hình ảnh thằng bé mặt mũi thì bê bết nước dưa hấu, lem luốc, bụi bặm, bẩn như ma lem, đầu tóc rối bù nhưng cặp mất cứ như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm, làm anh thấy thích, thích đến nỗi bắt đầu thấy nhớ nó. Cái nhìn thương mến trẻ thơ một cách tự nhiên, bột phát, bộc lộ qua cách anh vui vẻ làm quen với Va-ni-a, rủ chú bé đi ăn trưa với những lời lẽ giản dị. Nhạy cảm với nỗi đau trong trái tim bé bỏng cũa Va-ni-a, Xô-cô-lốp quyết định : Không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được. Điều đó có nghĩa là anh cũng tự ý thức rằng mình đang chìm nghịm với nỗi đau của mình bên cạnh một cuộc đời bất hạnh khác. Quyết định nhân ái đó đã thực sự nâng đỡ đời anh : Ngay lúc ấy, tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng. Nhẹ nhõm và bừng sáng, những từ ấy không chỉ diễn tả phút giây hiện tại mà còn bộc lộ cả một thực trạng trước đó của hồn anh : u uất, tối sầm, nặng trĩu buồn đau. Tâm hồn anh trở nên nhẹ nhõm bới anh đã tìm được lẽ sống của mình : thương yêu, đùm bọc kẻ bất hạnh khác là liều thuốc giúp khuây khoả nỗi khổ của mình. Niềm vui bất ngờ của tình cảm cha con không chỉ thổi luồng gió mới vào tâm hồn bé thơ của Va-ni-a, khiến cậu bé nhảy chồm chồm lên, ríu rít, líu lo vang rộn như con chim chích mà còn làm hồi sinh trái tim đã chai cứng vì đớn đau của Xô-cô-lốp : mắt mờ đi, hai tay lẩy bẩy, tôi thấy lòng vui không tài nào tả xiết, trái tim tôi đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn. Sức mạnh của tình thương đã sưởi ấm số phận của hai con người côi cút, hai hạt cát cô đơn bị bão tố chiến tranh thổi bạt. Tình thương Va-ni-a đã cứu vớt linh hồn Xô-cô-lốp, giúp anh trở về với cuộc sống bình thường. Khi cậu bé hồn nhiên, tin cậy gọi anh là bố, quấn quýt lấy anh không rời và rúc vào nách anh như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ, thì lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm anh mới được ngủ một giấc yên lành. Có Va-ni-a, anh đã lấy được phần nào bóng dáng cuộc sống gia đình : có trẻ thơ, trách nhiệm, niềm hi vọng, những gì tưởng đã mất hết trong chiến tranh. Một sinh linh bé bỏng ngây thơ là Va-ni-a lại là chỗ dựa tinh thần cho con người dày dạn, kiên cường như Xô-cô-lốp. Quả là một nghịch lí, nhưng cuộc đời có biết bao điều kì lạ như vậy ! Nhận Va-ni-a làm con nuôi, Xô-cô-lốp tự nguyện gánh lấy những trách nhiệm nặng nề : săn sóc cái ăn, cái mặc, giấc ngủ, rồi mai đây còn việc học hành,… Những lo toan tỉ mỉ mà bàn tay đàn ông không thành thạo. Nhưng chính sự chăm sóc vụng về ấy (mua quần dạ giữa mùa hè, chỉ cho con ăn bánh mì và trứng,…) làm ta cảm động vì ẩn đằng sau đó là một tình thương chân thành, mộc mạc, gốc rễ của một tấm lòng nhân hậu sâu xa. Nhưng điều khó khăn nhất đối với Xô-cô-lốp là gắng sao không làm tổn thương đến trái tim bé bỏng của Va-ni-a bằng cách giấu đi những sự thật về cuộc đời cậu bé và của chính mình. Sự thật ấy, khi lớn lên em sẽ biết, nhưng bây giờ em cần sống một cách hồn nhiên, không bị quá khứ ám ảnh. Xô-cô-lốp phải giấu đi những giọt nước mắt đàn ông nóng bỏng, hiếm hoi, những giọt nước mắt của con người bạc đầu vì chiến tranh để sống và nuôi nấng Va-ni-a. Nhờ nghị lực và trách nhiệm ấy, anh đã vượt lên những khúc mắc của đời sống hàng ngày, coi những rắc rối (như bị tước bằng lái xe một cách oan uổng) cũng chỉ là những điều vặt vãnh, không đáng bận tàm. Hai sô phận đau khổ dựa vào nhau, nâng đỡ nhau : Va-ni-a bé bỏng cần có bàn tay cứng cáp của Xô-cô-lốp cưu mang, chở che; còn Xô-cô-lốp, tình thương và trách nhiệm khiến anh bình tĩnh lại, cố đứng thẳng dậy, vươn mình vượt qua số phận, để trong anh thức dậy một niềm hi vọng lớn : làm việc và chờ đợi một ngày cháu Va-niu-ska lớn lên. Ẩn sâu trong con người Xô-cô-lốp là một tính cách Nga khiêm nhường mà quảng đại, dũng cảm mà nhân ái. Các hành vi của Xô-cô-lốp, từ lúc ở chiến trường, ở trại tù binh và trong hiện tại đều được chi phối bởi quan niệm đúng đắn về phẩm giá và trách nhiệm con người. Xô-cô-lốp từng khẳng định : anh là thằng đàn ông, anh là thằng lính chính là để chịu đựng hết mọi thứ, gánh vác hết mọi thứ khi cần thiết. Điều đó giúp anh ứng xử trong mọi trường hợp như một con người chân chính. Cuộc sống lao động, ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc, nhân dân, đồng đội đã giúp Xô-cô-lốp, dù chỉ là một người Nga bình thường, giản dị nhưng vẫn mang dáng vóc cao cả. Tinh thần dũng cảm và lòng nhân hậu, hai nét đặc biệt ấy đã giúp Xô-cô-lốp vượt qua thứ thách của số phận. Hình ảnh cuối cùng của cha con Xô-cồ-lốp, một già, một trẻ, một dày dạn, một thơ ngây, cầm tay nhau đi trên con đường vạn dặm mà chưa biết đâu là bến đỗ cuối cùng, đã khiến trái tim nhạy cảm trước nỗi đau đồng loại của tác giả bị bóp nghẹt vì đau đớn, vì thương cảm cho cả hai số phận, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ. Bất chấp số phận khắc nghiệt, họ sẽ dựa vào nhau để sống. Có thể nói, con đường đời của Xô-cô-lốp là hình ảnh nhân dân Nga bất chấp đau thương của chiến tranh, quyết vươn lên để tồn tại và phát triển. 3. Nghệ thuật trần thuật : hai ngôi kể chuyện Trong truyện có hai người kể chuyện : người kể – nhân vật và người kể – tác giả. Sự luân phiên và bổ sung điểm nhìn trần thuật của hai nhân vật này giúp cho chất trữ tình nhân vật và chất trữ tình tác giả hoà quyện, làm tăng sức hấp dẫn của thiên truyện và niềm cảm thông của người đọc trước số phận con người. Với những lời lẽ giản dị, chân thành, người kể – nhân vật (Xô-cô-lốp) đã bộc lộ một tâm hồn đau khổ nhưng đầy cương nghị, dũng cảm. Trong lời tâm sự, anh vừa nói với người nghe, vừa nói với chính mình, vừa thuật kể, vừa tự phân tích những cảm giác của mình : Về đâu bây giờ ? Chã nhẽ lại về Vô-rô-ne-giơ ? Không được ! ; Tôi thấy lòng vui không lời nào tả xiết,… Anh chùn thành thú nhận những điều không phải ai cũng dễ bộc lộ : những giọt nước mắt nóng hổi sôi lên ở mặt tôi, ban đêm thức giấc thì gối ướt đấm nước mắt. Quá khứ và hiện tại đan cài trong những lời tâm sự. Đặc biệt, chính những sự thật về cuộc đời, về trạng thái tâm hồn, về những nghĩ suy và tình cảm được miêu tả qua lời kể, lời phân trần, bộc bạch của Xô-cô-lốp lại có sức lôi cuốn mạnh mẽ, sâu xa. Chất trữ tình man mác, sâu lắng bao trùm câu chuyện kể. Còn lời kể của tác giả ? Ở đây chất trữ tình, tính chính luận hoà quyện làm lời văn tràn đầy âm hưởng bi tráng và mãnh liệt. Tác giả nồng nhiệt lên án chiến tranh, bày tỏ niềm cảm thương với hai số phận, bình luận vể ý chí dũng cảm và lòng nhân hậu của tính cách Nga. Lời trữ tình ngoại đê cuối tác phẩm là những lời văn mạnh mẽ mà lắng đọng suy tư, chứa chan niềm tin và hi vọng vào sức mạnh tinh thần của con người. Lúc phia tay, tác giả nhìn theo hai cha con Xô-cô-lốp và bày tỏ nồng nhiệt một niềm tin mãnh liệt vào tính cách Nga. Ông hi vọng rằng, lớn lên bên con người kiên cường, nhân hậu như Xô-cô-lốp, chú bé mồ côi Va-ni-a sẽ sống xứng đáng như một con người, có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường nếu như Tổ quốc kêu gọi. Truyện ngắn Số phận con người, còn được gọi là truyện ngắn – sử thi hay tiểu anh hùng ca, mang sức khái quát hiện thực lớn lao ; bởi thông qua số phận một con người, một thời đại của đất nước Xô viết được tái hiện. Câu chuyện về số phận một con người được lí giải trong mối quan hệ với số phận lịch sử của nhân dân Xô viết với hai chủ đề xuyên thấm : anh hùng và bi kịch. Cuộc đời bình thường của một người lính, những gian khổ và đau buồn trong chiến tranh đã là âm hướng về ý chí anh hùng, lòng dũng cảm, sức chịu đựng và sức mạnh tinh thần ghê gớm của con người Nga. Số phận con người chứa đựng một nội dung sâu sắc về triết học và thẩm mĩ. Đó là nội dung mang ý nghĩa nhân loại : sức mạnh tinh thần có khả năng cứu vớt con người và nhờ nó con người có thể vuợt qua sự tàn phá, huỷ diệt của chiến tranh, xây dựng cuộc sống tự do, yên lành. Đó là hình ảnh con người vừa mang cá tính sinh động, vừa kết tinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của cộng đồng. Hình tượng Xô-cô-lốp, do đó trở thành biểu tượng cho số phận và vẻ đẹp tinh thần của con người qua những cơn bão táp lịch sử của thế ki XX.

 

BÀI LÀM 3

Nhà văn Sô-lô-khốp tên họ đầy đủ là Mi-khai-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp. Ông sinh năm 1905 tại thị trấn Vi-ô-sen-xcai-a, tỉnh Rô-xtốp thuộc vùng Sông Đông, Liên Xô (cũ). Thời trẻ, ông đã phải trải qua rất nhiều nghề lao động vất vả để kiếm sống. Vượt lên khó khăn, thử thách, Sô-lô-khốp tự học, tự đọc rất chuyên cần và bắt tay vào sáng tác với ước nguyện sẽ đưa hình ảnh quê hương, đất nước và con người thân yêu vào trong tác phẩm của mình. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Sô-lô-khốp gắn liền với các sự kiện lịch sử lớn lao, trọng đại trong cuộc chiến tranh vệ quốc đau thương và oanh liệt của nước Nga Xô viết chống phát xít Đức xâm lược. Với những tác phẩm nổi tiếng như tiểu thuyết Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang, truyện ngắn Số phận con người…, năm 1965, Sô-lô-khốp vinh dự được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học và được đánh giá là một trong những nhà văn vĩ đại nhất thế kỉ XX của nước Nga và thế giới.

Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc bằng chiến thắng vẻ vang của Hồng quân Liên Xô trong trận tiến công vào tận sào huyệt phát xít Đức ở Béc-lin. Sự mất mát, hi sinh to lớn của nước Nga Xô viết đã giúp nhân loại thoát khỏi hiểm họa phát xít đáng ghê tởm. Hòa bình lập lại, nhân dân Nga hối hả bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các chiến sĩ Hồng quân giải ngũ trở về với cuộc sống lao động bình thường. Nhưng mọi điều đều không dễ dàng. Bao gian khổ, khó khăn trên con đường đi tới tiếp tục thử thách lòng dũng cảm, ý chí và nghị lực của họ. Nhà văn Sô-lô-khốp cảm phục trước sức mạnh tinh thần của nhân dân Nga trong thời hậu chiến, trăn trở trước số phận và tương lai của con người nên đã sáng tác truyện ngắn Số phận con người. Có thể nói đây là tác phẩm hiện thực xuất sắc đầu tiên xuất hiện sau chiến tranh mà tác giả dám nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc, nan giải của cuộc sống, của những số phận bất hạnh, để từ đó ca ngợi và tôn vinh phẩm chất kiên cường, nhân hậu của nhân dân Nga mà ông hết lòng yêu mến và trân trọng.

Nhân vật chính của truyện là Xô-cô-lốp, một chiến sĩ Hồng quân trực tiếp tham gia chiến đấu chống phát xít Đức và đã trải qua hai năm khủng khiếp trong trại tù binh của quân thù. Nhờ dũng cảm, mưu trí, anh đã bắt sống tên thiếu tá Đức, cướp xe vận tải rồi tìm cách chạy về phía quân ta. Đến lúc này anh mới biết tin vợ và hai đứa con gái nhỏ đã bị chết trong một trận máy bay Đức ném bom quê anh năm 1942. Con trai lớn của anh cũng tham gia trận tấn công vào Béc-lin và đã bị kẻ thù sát hại đúng vào ngày chiến thắng. Số phận Xô-cô-lốp thật bất hạnh. Hòa bình rồi nhưng anh không thể trở về quê hương vì không còn ai là người thân. Anh sống phiêu bạt nay đây mai đó với cuộc sống bấp bênh và những cơn ác mộng kinh hoàng khiến trái tim anh luôn rỉ máu.

Đoan trích nằm ở cuối tác phẩm, kể về chuyện Xô-cô-lốp nhận chú bé mồ côi Va-ni-a làm con nuôi. Tình yêu thương con người đã sưởi ấm trái tim anh, khiến cho anh có thêm sức mạnh vượt qua những bất hạnh của số phận và tiếp tục tin yêu cuộc sống.

Đúng như tên gọi của tác phẩm là Số phận con người, nhà văn Sô-lô-khốp dường như bám sát những diễn biến trong cuộc sống của nhân vật Xô-cô-lốp và luôn đặt anh vào những tình huống bất thường để bộc lộ tính cách. Điều bất hạnh lớn nhất mà Xô-cô-lốp phải đối đầu trong cuộc sống hòa bình là anh đã mất tất cả những người thân yêu, mất niềm hi vọng sum họp gia đình sau bao ngày chiến tranh ác liệt, luôn cận kề với cái chết. Anh không muốn trở về quê hương vì sợ không chịu nổi sự nhức nhối, day dứt do bao nhiêu kỉ niệm êm đẹp gợi lên trong tâm trí. Lang thang nơi đất khách quê người, anh chỉ còn nguồn an ủi duy nhất là vợ chồng người bạn chiến đấu cũ, nay cũng phải lăn lộn vất vả mưu sinh. Xô-cô-lốp ở nhờ nhà họ và được bạn xin cho một chân lái xe chở hàng trong đội vận tải. Công việc hằng ngày của anh là chở hàng hóa từ thành phố về các huyện.

Sự thiếu thốn về vật chất cộng với nỗi đau tinh thần không thể nguôi ngoai khiến sức khỏe của anh ngày một yếu đi. Anh chẳng có thú vui gì ngoài thói quen uống rượu : Thường cứ chạy xe xong trở về thành phố, việc đầu tiên cũng dễ hiểu thôi, là tôi vào hiệu giải khát, nhấm nháp chút gì đó và tất nhiên có uống một li rượu lừ người… Phải nói rằng tôi đã quá say mê cái món nguy hại ấy… Xô-cô-lốp cố dùng rượu để giải sầu nhưng nỗi sầu chẳng hề vơi mà cứ kết lại thành hình thành khối nặng trĩu trong lòng. Điều đó thể hiện tâm trạng đau đớn, bế tắc và tuyệt vọng của anh.

Ngẫu nhiên, cũng chính ở cái hiệu giải khát ấy, anh đã để ý tới chú bé mồ côi Va-ni-a : Thế rồi một hôm, tôi thấy chú bé ấy ở gần cửa hàng giải khát, hôm sau vẫn lại thấy… Cái dáng vẻ bên ngoài khốn khổ của chú bé đập vào mắt anh, khơi dậy tình cảm xót thương: …thằng bé rách bươm xơ mướp. Mặt mũi thì bê bết nước dưa hấu, lem luốc, bụi bặm, bẩn như ma lem, đầu tóc rối bù nhưng cặp mắt – cứ như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm. Nó vô tình khiến anh nhớ lại đứa con trai kháu khỉnh, thông minh mà anh hết lòng yêu thương và kì vọng. Anh thú nhận: Tôi thích nó, và lạ thật, thích đến nỗi bắt đầu thấy nhớ nó, cố chạy xe cho nhanh để được về gặp nó.

Có lẽ sự thiếu thốn tình cảm gia đình và khao khát có được người thân bên cạnh là nguyên nhân của cảm giác ấy. Xô-cô-lốp cảm thấy ấm lòng khi nhìn thấy chú bé, nghĩ về chú bé. Lòng nhân hậu đã làm sống lại tình phụ từ thiêng liêng trong anh. Trái tim anh tưởng chừng đã bị nỗi đau đớn ghê gớm làm cho chai đá thì giờ đây lại ấm nóng và đập những nhịp rộn ràng. Nghe bé Va-ni-a thở dài, trong lòng anh trào lên nỗi xót thương vô hạn : Một con chim con non nớt như thế mà đã học thở dài ư ? Đấy đâu phải việc của nó. Anh chủ động làm quen với chú bé tội nghiệp và qua trò chuyện, anh biết chủ bé cũng là nạn nhân của cuộc chiến tranh tàn khốc: Tôi hỏi: “Bố cháu đâu hả Va-ni-a ?” Nó rỉ tai: “Chết ở mặt trận.” – “Thế mẹ cháu ?” – “Mẹ bị bom chết trên tàu hỏa khi mẹ con cháu đang đi tàu.” – “Thế cháu từ đâu đến ?” – *Cháu không biết, không nhớ,..” – “ Thế ở đây cháu không có ai là bà con thân thuộc à ?”. – “Không có ai cả.” – “Thế đêm cháu ngủ ở đâu” – “Bạ đâu ngủ đó”. Nghe cái giọng non nớt, tội nghiệp của cậu bé, Xô-cô-lốp xúc động không sao cầm được nước mắt: Những giọt nước mắt nóng hổi sôi lên ở mặt tôi, và lập tức tôi quyết định : “Không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con.” Những giọt nước mắt của Xô-cô-lốp, người chiến binh dạn dày trận mạc, vào sống ra chết trong chiến tranh có ý nghĩa nhân văn sâu xa. Nó thể hiện nỗi đau tột cùng không thể thốt nên lời; đồng thời tố cáo chiến tranh phi nghĩa và tội ác của kẻ thù gieo rắc đau thương, tang tóc cho con người và đất nước Nga thân yêu của anh.

Quyết định bất ngờ của Xô-cô-lốp bắt nguồn từ lòng nhân hậu vốn có của người Nga. Riêng đối với anh, đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn bởi trái tim nhạy cảm của anh thấu hiểu nỗi cô độc của kẻ không gia đình, không nhà cửa, không quê hương, sống trơ trọi giữa cuộc đời gian nan và đầy bất trắc. Đoạn văn tả cảnh Xô-cô-lốp đưa chú bé lên xe và chuyện trò với nó trong buồng lái thật tự nhiên và cảm động: Ngay lúc ấy, tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng lên. Tôi cúi xuống bên nó khẽ hỏi: ” Va-niu-ska, có biết ta là ai không nào ?”. Nó hỏi lại nghẹn ngào : “ Thế chú là ai ?” Tôi nói lại cũng khẽ như thế : ” Ta là bố của con !”. Trời ơi ! Thật không thể tưởng tượng được. Nó nhảy chồm lên cổ tôi rồi hôn vào má, vào môi, vào trán và như con chim chích, nó ríu rít líu lo vang rộn cả buồng lái: “Bố yêu của con ơi ! Con biết mà ! Con biết thế nào bố cũng tìm thấy con mà ! Thế nào cũng tìm thấy mà ! Con chờ mãi mong được gặp bố”. Nó áp sát vào người tôi, toàn thân cứ run lên như ngọn cỏ trước gió. Còn mắt tôi thì cứ mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy… Lòng yêu thương quả là có sức mạnh diệu kì làm tái sinh, thay đổi hẳn con người, đem lại niềm vui sống.

Tâm hồn Xô-cô-lốp và Va-ni-a đều đang khao khát được sưởi ấm, được yêu thương, chia sẻ. Dường như có một sự sắp đặt kì diệu nào đó đưa đẩy hai con người bất hạnh đến với nhau. Va-ni-a tin rằng người đàn ông với thái độ cử chỉ đầy bao dung, che chở này chính là bố đẻ của mình. Còn Xô-cô-lốp thực lòng yêu thương và chăm sóc chú bé Va-ni-a như con đẻ. Anh thương xót, lo lắng cho chú bé với tất cả sự quan tâm và trách nhiệm của một người cha. Anh tắm rửa cho chú bé sạch sẽ, đặt lên giường ngủ rồi chạy vội ra cửa hàng tạp hóa mua quần áo, mũ và dép cho con trai mới. Xô-cô-lốp làm tất cà những việc đó với niềm vui khó tả. Những dòng nhà văn miêu tả tâm lí nhân vật Xô-cô-lốp trong đêm đầu tiên ngủ cùng chú bé Va-ni-a thật tinh tế và làm thổn thức trái tim người đọc : Tôi ngủ chung với nó, và lần đầu tiên, sao bao nhiêu năm tôi được ngủ một giấc yên lành. Nhưng trong đêm cũng phải dậy đến vài bốn bận. Tôi thức giấc, thấy nó rúc vào nách tôi như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ, tôi thấy lòng vui không lời nào tả xiết ! Tôi không dám trở mình để nó khỏi thức giấc, nhưng rồi không nén được, tôi nhẹ nhàng ngồi dậy đánh diêm ngắm nhìn nó ngủ…

Xô-cô-lốp không giấu sự vất vả, khó khăn trong những ngày đầu nhận nuôi chú bé Va-ni-a. Nó đòi hỏi ở anh lòng kiên nhẫn, đức vị tha, tình yêu thương cùng trách nhiệm của người cha, người mẹ : Thời gian đầu, nó còn theo tôi trong các chuyến xe, nhưng rồi tôi hiểu ra rằng như thế không có lợi. Chỉ một mình tôi thì có cần gì đâu ? Một mẩu bánh mì, một củ hành với tí muối, thế là đủ cho một ngày của đời lính. Nhưng thêm nó thì khác : Khi thì phải mua sữa cho nó, khi thì phải luộc quả trứng, không có thức ăn nóng cho nó là không xong… Tuy nhiên, chú bé Va-ni-a dễ thương gợi cho Xô-cô-lốp nhớ tới đứa con trai mà anh yêu quý và điều đó đã bù đắp cho anh tất cả.

Điều quan trọng hơn là Xô-cô-lốp luôn cố gắng tạo ra cho chú bé mồ côi một niềm vui, một nguồn an ủi và tin tưởng vào anh – người mà nó tưởng là bố. Cho nên mỗi khi bất ngờ chú bẻ hỏi anh về một thứ gì đó như cái áo bành tô bằng da mà trước đây bố nó hay mặc thì anh phải tìm cách trả lời sao cho êm xuôi để Va-ni-a không nghi ngờ. Anh không muốn làm tổn thương trái tim non nớt của chú bé tội nghiệp. Đó cũng là biểu hiện rất tự nhiên của tấm lòng nhân hậu.

Cuộc đời của hai bố con Xô-cô-lốp tưởng chừng cứ thế trôi qua trong yên bình, nhưng số phận bất hạnh chưa buông tha anh. Đến tháng mười một thì Xô-cô-lốp gặp chuyện rủi ro : Xe anh đụng phải chân một con bò đi ngang đường. Con bò chẳng làm sao nhưng người chủ của nó vẫn làm ầm ĩ nên Xô-cô-lốp bị nhân viên kiểm soát giao thông thu hồi bằng lái. Anh mất việc, phải đi làm thợ mộc kiếm sống qua ngày. Một người bạn cũ ở Ka-ra-sư hứa sẽ xin việc cho anh trong thời gian chờ cấp bằng lái xe mới. Thế là bố con anh lại lên đường.

Hành trình của Xô-cô-lốp thật gian nan: anh phải đi bộ rất xa, từ vùng này sang vùng khác. Song anh không nản chí. Chú bé Va

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top